![]() |
Trang Web Hướng Dương Txđ |
![]() |
Một Câu Chuyện Ơn Nghĩa |
Đợi cho tất cả mọi ngồi xuống quanh anh trên ba chiếc ghế nệm da mầu đen tuyền, nơi phòng khách sang trọng của căn nhà rộng thênh thang vùng ngoại ô thành phố, Hoàng mới bắt đầu kể câu chuyện đời của anh, một câu chuyện ly kỳ mà ai nấy đều muốn biết vì đã nghe nhiều người nói tới, nhưng chưa bao giờ tin. Nay họ được nghe từ chính miệng anh, vai chính trong câu chuyện. Câu chuyện như sau:
Như thế năm mười bẩy, anh đã trở lại sống trên đồn điền trà của cha mẹ anh, ngày ngày đi theo cha học chăm lo công việc sản xuất, đôn đốc công nhân, xem xét giấy tờ người thư ký già soạn thảo, tính toán lời lỗ, đặt kế hoạch này nọ. Tối đến, khi có khách đến nhà, anh cùng người cha tiếp chuyện những ông bà tai to mặt lớn trong vùng, những thương gia cùng trong nghề trồng trà như cha anh, những quan to trên tỉnh xuống chơi, và có khi cả những khách ngoại quốc đến thăm cơ sở thương mại của gia đình anh. Nhờ có vốn ngoại ngữ, anh thường đại diện cho cha anh nói chuyện làm ăn buôn bán với những kẻ lạ từ các nước khác đến nhận định tình hình, tính toán kế hoạch hợp tác kinh doanh với cha anh. Ai nấy thắc mắc tại sao vào cái thời chinh chiến khốn nạn đó, thanh niên ai cũng đều phải tòng quân nhập ngũ bảo vệ đất nước, mà riêng anh cứ sống phây phây ở nhà như thế, thì anh chỉ mỉm cười trả lời rằng số anh có hồng phúc, sanh ra làm con một trong gia đình, mà luật lệ quốc gia lại công minh, cho nên anh đã được miễn dịch. Hơn nữa cha anh là người khôn ngoan biết điều, làm ăn kinh doanh biết lẽ phải nên ông luôn có kẻ phù trở từ trên, gia đình ông quen biết lớn không ai đụng chạm đến bao giờ. Ngay cả "phiá bên kia" cũng tạm để cho ông yên thân vì ông luôn sẵn sàng thoả mãn đòi hỏi của họ một cách kín đáo, không bao giờ than phiền về những "sách nhiễu của bọn giặc." Thế rồi đến năm anh 22 tuổi thì cha anh không còn muốn lo công việc làm ăn của gia đình nữa nên đã giao hết mọi chuyện cho anh. Mới ở cái tuổi thanh niên mà anh đã bắt đầu phải giữ trọng trách điều hành một cơ sở sản xuất khá lớn có đến mấy chục nhân công, nhưng nhờ có kinh nghiệm học được từ sớm anh đã chu toàn được nhiệm vụ cha anh trao phó một cách tương đối dễ dàng. Từ từ anh phát triển thêm khả năng kinh doanh, có thêm nhiều kinh nghiệm, và với bộ óc thông minh và tháo vát, cộng thêm với lòng hăng say làm việc, anh đã trở nên một biểu hiện của sự thành công. Anh đã nghiên cứu trồng những loại cây trà có năng xuất cao, phát triển sản xuất nhiều loại sản phẩm trà khác nhau, tìm những phương pháp ướp xấy hiểu quả hơn, thay nhưng phương thức đóng chai đóng gói cũng như những nhãn hiệu phù hợp để phát triển thị trường của cơ sở. Hãng trà của anh ngày càng nổi tiếng khắp trong nước và cả ở nước ngoài, và lợi tức anh thu vào hàng năm ngày càng nhiều. Cho đến năm anh 25 tuổi, anh vẫn không giao thiệp thân thiết với một người con gái nào hết, mặc dù anh có nhiều cơ hội gặp gỡ làm quen. Trong những buổi tiếp tân, giao tiếp với bao nhiêu cô gái xinh đẹp con nhà tử tế có học nhưng sao lòng anh không thấy có một ý muốn nào hết. Những năm sau đó mẹ anh đã tỏ ý muốn kiếm vợ cho anh vì thấy anh chỉ biết chí thú làm ăn mà không nghĩ gì đến việc lập gia đình. Nhiều lần bà đã hỏi khéo anh về chuyện này và thúc dục anh đi kiếm bạn gái :
Nhưng anh chỉ cười nói đùa :
Anh quả thật là một con người lạ lùng. Ở cái thế có thể ăn chơi vung vít mà anh không biết uống rượu, không biết đi nhẩy đầm, không cặp kè trai gái. Chả bù với những thằng bạn của anh đi lính, mỗi lần chúng nó đi phép ghé nhà anh thăm hỏi, rủ anh đi Đà Lạt vui chơi! Anh cũng đi theo nhưng chỉ đi làm bù nhìn. Bọn chúng uống cognac whisky, anh chỉ uống nước ngọt. Bọn chúng phì phèo thuốc lá, anh chịu khói thuốc không nổi cứ sặc lên sặc xuống! Và bọn chúng thi nhau tán gái, ôm hết em này đến em kia hôn hít, kéo em này em nọ ra sàn nhẩy, anh chỉ ngồi yên đó trầm ngâm suy tư. Đi chơi với bạn mà không "ăn giơ" (en jeu) với chúng, có người buột miệng hỏi anh "đi chơi như vậy làm chi?" thì anh chỉ cười trả lời "bạn bè, không đi chúng nó buồn". Có lần đi nhẩy, em ca ve xinh đẹp để ý đến anh sán lại ngồi bên hỏi chuyện. Hỏi anh sao anh không ra nhẩy, anh trả lời anh không biết khiêu vũ, em đề nghị anh ra sàn nhẩy với em để em chỉ cho thì anh vội cám ơn. Lúc buồn buồn khi thèm có người nói chuyện, anh đề nghị với các em ca ve cứ ngồi chơi với anh, anh vui lòng trả cát xê như lúc nhẩy. Nhiều em có cảm tình với anh nên đồng ý. Nhiều đứa thấy hành động của anh khác thường xầm xì bàn tán:
Có khi anh đoán chừng chúng nó nói gì rồi, vì cứ thấy chúng nó thì thầm với nhau mà nhìn về phiá anh với những con mắt dọ dẫm, nhưng anh cứ tỉnh bơ. Vài cô lại nghĩ rằng chắc anh đã có người yêu thầm kín, anh đang theo đuổi, nên không màng gì đến họ. Nhưng họ không biết rằng anh chẳng có người yêu nào hết, anh chưa thấy muốn yêu ai, và chính anh cũng không biết tại sao. Còn vụ bảo anh hô mô thì chính anh hiểu rõ anh không vậy, vì anh đâu bao giờ để ý gì đến những người đồng phái? Anh đi chơi với bạn cho chúng vui chứ đâu có tình ý gì khác? Nhưng rồi cái gì phải đến cũng đã đến. Một hôm anh đi Saigon tham dự một cuộc triển lãm sản phẩm để xuất cảng và trong dịp này anh đã gặp Loan, một người con gái trong ban tổ chức. Nàng khoảng 30 tuổi, trông già dặn hơn anh, và là con gái của ông chủ tịch Phòng Thương Mãi của thành phố. Vừa thấy Loan anh đã bị thu hút bởi vẻ đẹp quyến rũ của nàng. Anh đã bị một cú sét ái tình. Đó là một sự bất ngờ xẩy ra lần đầu tiên trong cuộc đời anh. Anh không hiểu chuyện gì đã đến với anh, anh chỉ biết anh thấy say mê bởi cái đẹp khủng khiếp của người con gái đầu tiên đã hấp dẫn anh, đã đưa anh vào mê hồn trận. Nàng đứng cách xa anh chừng mươi thước, trong chiếc áo sơ mi đỏ và chiếc váy dài đen lấm tấm hoa, tay cầm ly rượu xâm banh nói chuyện với bốn năm người đàn ông tuổi cha chú nàng. Anh thấy nàng thỉnh thoảng lại hất ra phiá sau vai mớ tóc quăn dài cứ rũ xuống má, dáng điệu thật dễ thương, miệng cười nói thật xếch xi, đôi mắt đen láy thỉnh thoảng lại chớp chớp như để phô trương lớp mi cong dài đẹp tuyệt. Chiếc áo ngắn tay màu đỏ thắm, bóng như lớp xa tanh, làm nổi bật hai cánh tay dài có nước da trắng ngời của nàng. Và những ngón tay búp măng cụp tròn quanh chiếc ly pha lê lóng lánh rượu màu hồng, ôi những ngón tay dài thật dễ thương anh chỉ muốn nắm hôn, anh thấy hình ảnh ấy trông tựa như trong một bức tranh quảng cáo xâm banh tuyệt mỹ. Anh ngây ngất đứng ngắm nàng, quên tất cả mọi chuyện, không còn để ý đến bất cứ gì khác đang diễn ra xung quanh. Và như thể có một sự cảm từ xạ lạ lùng, nàng đã quay về phiá anh để thấy anh đang đứng chăm chú nhìn mình. Nàng bỗng nở một nụ cười tươi như một bông hoa hồng ban mai, làn môi đỏ thắm khẽ hé mở; rồi như xúc động, nàng chớp làn mi, cúi mặt hướng nhìn đi phiá khác. Anh thấy tim anh rộn lên một niềm hạnh phúc, rồi lại thấy mắc cở vì hành động hơi sỗ sàng của mình. Anh lẻn đi chỗ khác để tránh cảm giác bồi hồi làm cho anh khó chịu. Anh tưởng sự việc xẩy ra đến thế là hết; vì mặc dù vào lúc đó anh có muốn tìm cách làm quen nàng anh cũng chẳng biết làm thế nào, anh chưa bao giờ biết tán tỉnh và cũng chưa bao giờ làm quen một người khác phái. Nhưng đúng do duyên số đưa đẩy, lúc vào bữa tiệc anh lại được xếp ngồi ngay bên nàng. Thế là hai đứa quen biết nhau. Nói chuyện một chốc, hai đứa thấy hợp tính nên sớm thân tình.
Đôi má tuy ửng đỏ nhưng nàng vẫn điềm tĩnh hỏi lại :
Nàng càng thấy nong nóng trên mặt, đôi má hồng vốn đã đẹp lại càng đẹp hơn. Trông nàng lúc đó sao anh chỉ muốn hôn lên má nàng, chỉ muốn "bi du" (bisou), nếu nói theo lối Tây Đầm.
Sợ Loan giận vì e mình đùa quá trớn, anh vội xuống giọng :
Được khen đẹp, Loan quên hết, chẳng còn để tâm đến lời châm chọc của anh trước đó. Còn chính anh, anh cũng không hiểu tại sao vào lúc đó anh lại có cái lối nói nghịch ngợm như thế. Là dân trường Tây, đáng lẽ ra anh phải biết "ga lăng", biết nịnh đầm, như những đứa bạn anh thường dạy anh. Nhưng ngay sau đó thì anh đã chín chắn lại, anh đã đóng đúng vai của một "homme d’affaires", một người đi làm ăn. Nhìn anh lúc nghiêm nghị, ai dám bảo anh mới ở tuổi 25? Hai đứa sau đó chỉ còn nói chuyện đàng hoàng đứng đắn, chuyện làm tiền, chuyện buôn bán. Anh cho Loan biết anh hoạt động trong ngành trồng và sản xuất trà, anh mang trà đi bán, còn Loan thì cho anh hay rằng nàng giống mẹ sinh hoạt trong ngành kinh doanh. Anh ngạc nhiên nói với nàng :
Loan chỉ cười. Giống nhau! Có thể vì cái giống nhau đó mà nàng đã có cảm tình với anh. Tối ra về hôm đó, anh đã lái xe đưa Loan về nhà nàng. Mọi người nghe Hoàng kể chuyện lòng vòng đã tỏ ra sốt ruột. Họ muốn anh nói thẳng vào đề, kể cho họ nghe những gì họ đang muốn biết. Như thể anh đã đoán được sự nóng lòng của các bạn, anh cầm chai cognac rót một vòng rượu cho mọi người, rồi chậm rãi nói : "Cứ từ từ rồi tôi sẽ kể hết chuyện cho các bạn nghe ! Tôi đâu có muốn giấu làm gì ? Nói mãi cũng khản cổ, thôi mới các bạn cùng tôi nhấp chút rượu cho ấm họng." Sau đó anh kể tiếp câu chuyện. Suốt những tháng sau đó hai đứa thường hẹn hò cuối tuần gặp nhau. Loan lai xe từ Saigon lên Bảo Lộc chơi và ở lại nhà anh. Mẹ anh rất thương yêu Loan vì thấy nàng thuộc gia đình gia giáo, có học (nàng tốt nghiệp trường Chính trị Kinh Doanh Đà Lạt), khôn khéo, dễ thương, ăn nói nhỏ nhẻ lễ độ mà lại biết chiều chuộng bà, duy chỉ có tội lớn hơn Hoàng bốn tuổi. Bà mong anh quyết định lập gia đình với người con gái đó để bà được yên tâm và sớm có cháu nội bồng bế. Vả lại sức khoẻ cha Hoàng ngày một suy kém, không biết ông còn sống được bao lâu. Bà muốn cha anh được thấy anh có gia đình tử tế, sống cuộc sống qui củ đâu vào đấy trước khi ông mất, như thế chắc hẳn ông sẽ mãn nguyện. Cha anh im lìm ít nói, nhưng linh tính cho bà biết như vậy. Riêng Hoàng thì mặc dù anh có cảm tình với Loan, anh cũng thương yêu nàng, nhưng chẳng hiểu vì sao anh vẫn chưa thể quyết định.
Khi được tin Loan bị giết, Hoàng lặng người bàng hoàng, không còn biết phải làm gì. Anh có cảm tưởng như thể anh phải chịu một phần trách nhiệm trong cái chết của người bạn gái anh bắt đầu yêu. Cảm giác tôi lỗi ám ảnh anh suốt nhiều tháng sau đó, anh bị trầm cảm nặng, anh thấy cuộc đời thật vô lý, anh không thể hiểu được tại sao lại có sự bất công như vậy. Anh cứ cố tìm hiểu xem vì lý do gì mà sự thể lại xảy ra, tại sao Loan lại tự nhiên quyết định đi vào buổi chiều thứ sáu như thế, tại sao nàng lại không biết rằng làm thế là nguy hiểm, là nàng có thể chết như nàng đã chết. Anh không giải thích được cái tai nạn khốn nạn này, anh không chấp nhận rằng đó là định mệnh. Anh buồn bã không còn thiết ăn thiết ngủ nữa, cứ suốt ngày đi lang thang trong vườn trà như người mất hồn. Mẹ anh phải tạm đứng ra lo quản lý công việc thay anh. Ngoài ra bà còn phải lo chạy thầy thuốc cho con cũng như tìm cách an ủi, khuyên chồng đừng để tâm suy nghĩ, có hại cho sức khỏe vốn đã mong manh của ông. Người đàn bà bình thường chân yếu tay mềm là bà, bỗng nhiên trong hoàn cảnh bi đát, đã tỏ ra có sức mạnh phi tường. Một mình bà đã phải cáng đáng mọi việc trong gia đình thay cho cả chồng lẫn con. Rồi một hôm đi lang thang trong vườn trà, Hoàng bỗng gặp một con chó con, to bằng hai nắm tay, nằm khép mình ở một gốc trà. Thấy anh đến gần, nó kêu những tiếng rên rỉ khóc lóc như thể muốn van xin anh cứu sống nó. Trong lúc buồn bã, anh đã chẳng thèm để tâm gì đến con vật khốn nạn, anh cứ thế tiếp tục bước tới. Nhưng đi cả chục bước rồi mà anh vẫn nghe tiếng kêu thảm thiết như van lạy của con chó con. Rồi như thức tỉnh khỏi cơn mê, anh quay người lại thì thấy con chó đã lẽo đẽo theo anh phía sau. Anh bèn cúi xuống bồng nó lên, ôm nó mang về nhà. Anh chăm sóc nuôi nó và chẳng bao lâu sau nó đã khôn lớn hơn, suốt ngày quấn quít bên anh. Có con chó con làm bạn, anh chơi với nó, đừa rỡn nâng niu nó, và dần dần anh quên bớt đi nỗi buồn, quên đi sự bất hạnh, và tình trạng tâm thần của anh từ từ khả quan hơn, anh tiếp tục vừa dùng thuốc tây, vừa áp dụng phương pháp tâm lý trị liệu nhờ sự làm bạn của con chó đang sống bên anh. Một thời gian nửa năm sau, anh đã trở lại gần như bình thường, anh lại tiếp tục công việc của anh xưa kia, không còn bắt mẹ anh làm thế nữa. Con chó sau này to lớn gần bằng con bê, lông xù, đầu to lớn, khôn không tả, nói gì nó cũng hiểu và ngoan ngoãn vâng lời chủ, nói một câu là nghe liền. Anh đã dành cả thời gian nghỉ ngơi để ở bên nó, huấn luyện nó canh nhà cho anh, bào vệ anh. Cứ nghe từ xa có người tới gần là nó đã sủa hai tiếng để báo động. Anh đi đâu cũng dắt nó theo, đi công việc hay đi chơi đều có nó bên cạnh. Khi anh lái xe, anh để nó ngồi ở ghế phiá trước; khi anh đi họp thì nó nằm yên dưới chân anh không nhúc nhích cho đến lúc anh đứng dậy ra về. Ai thấy nó cũng thích vuốt đầu, vuốt lưng nhưng anh dặn mọi người chớ có đụng vào người anh vì, tưởng đánh anh, nó sẽ phóng tới tấn công cắn vào cổ. Hỏi thăm, anh kể lại cách anh đã dạy nó cắn vào cổ người ta như thế này. Ngoài vườn sau nhà anh đã cho xây một căn phòng lớn như một ga ra chứa xe làm nhà riêng cho con chó. Trong căn nhà con này anh thường ngồi chơi với nó và dạy dỗ nó bao nhiêu trò. Anh đã cho đóng một thùng gổ lớn, đổ đầy rơm rạ, rồi trên mặt trải một tấm mền dày để cho con chó nằm ngủ. Từ khi còn nhỏ, ngoài cơm và thịt nấu chín, lâu lâu anh bỏ đói nó một hôm để rồi ngày hôm sau anh nướng một con gà nửa sống nửa chín cho thơm phức rồi dạy nó chồm nhẩy lên cao trước khi cho ăn. Anh đóng một chiếc cột ngoài sân, treo con gà lủng lẳng rồi ra lệnh cho nó phóng mình lên chộp con gà. Cứ như thế, mỗi lần anh treo cao hơn, cho đến khi treo cao cả ba thước con chó vẫn phóng lên lấy được mìếng thịt. Anh còn làm một hình nộm bằng rơm to lớn, dựng nó đứng ngoài vườn. Anh cứ áp dụng phương thức kia, bỏ đói con chó một ngày, rồi mua thịt bò nướng cho thơm cột quanh cổ hình nộm, rồi anh lấy vải quấn xung quanh nhiều lượt cho kín miếng thịt. Sau đó anh đem con chó tới gần, cột thòng một sợi dây vào cổ nó rồi ra lệnh cho nó chồm tới đớp miếng thịt. Sơi dây anh cột con chó vừa đủ ngắn để không cho nó chồm tới được tận miếng thịt, nhưng đủ dài để miệng nó tới gần, làm cho nó thèm rỏ dãi. Bị cơn đói hoành hành, bị mùi thơm của miếng thịt kích thích, và nghe tiếng chủ nó ra lệnh tấn công liên tiếp, con chó cứ như điên như dại phóng mình tới. Cho đến khi chiụ không nổi sức kéo, sợi dây đứt phựt thì con chó nhẩy ngay tới cổ thằng hình nộm, quật nó ngã xuống, cắn xé lớp vải bên ngoài và ngồm ngoàm ăn miếng thịt bò còn máu đỏ be bét bên trong. Nhìn cảnh con chó tấn công thằng hình nộm ai nấy đều phải rùng mình kinh hãi. Thế rồi ngày 30 tháng Tư xẩy ra, cái ngày khốn nạn đưa tai hoạ đến cho bao nhiêu người! Như tất cả những gia đình khá giả ở miền Nam, gia đình anh cũng bị bọn sói lang đến nhà ăn cướp. Khi bọn chúng chục người mang súng ống kéo đến nhà anh, bố anh bị cơn đau tim vì quá sợ hãi nên đã qua đời. Mẹ anh đang bị chúng hạch hỏi kết tội làm giầu trên sương máu nhân dân thì anh từ vườn trà về cùng con chó. Thấy anh đi tới, một thằng ranh con tuổi chừng mười sáu, loắt choắt, anh có thể bẻ mũi dễ dàng nếu nó không có súng trong tay, thằng khốn nạn tới số chết, nó tới gần đòi còng tay anh lại. Anh vừa chống cự thì con chó phóng tới cổ thằng khốn nạn mà ngoạm, cắn đứt động mạch cảnh của nó, máu phun tung toé, lênh láng một vũng dưới đất, làm cho bọn côn đồ kinh hoảng bỏ chạy. Con chó còn phóng theo cắn chết thêm một đứa nữa khi tên này chĩa khẩu AK vào nó mà bắn. Khốn khổ thay, một viên đạn đã trúng tim con chó thương yêu của anh. Sau khi nó giết chết được thằng côn đồ đã bắn nó, con vật nằm vật xuống bên cạnh xác chết của thằng Việt Cộng, đôi mắt thẫn thờ nhìn anh như muốn chào vĩnh biệt. Anh gục xuống bên cạnh con chó yêu quí, đau đớn trong lòng, hận thù tràn ngập trong tim vì quân thù đã giết chết hai kẻ thân yêu trong gia đình là cha anh và con chó của anh. Ngay tối hôm đó anh vội ra lệnh người làm chôn cất cả cha anh lẫn con chó bên nhau, rồi anh dắt tay mẹ đi trốn ngay về Saigon vì anh biết hôm sau chúng sẽ kéo đến trở lại để trả thù. Ngày 2 tháng Năm 1975, anh đã cùng một số người trong gia đình kéo nhau đi Long Hải và may mắn thay cả nhóm đã lên được một con tàu buôn lớn bỏ nước trốn đi. Sau đó cũng như bao nhiêu kẻ khác vào được đất Mỹ, hai mẹ con anh đã đến lập nghiệp tại nơi đây. Nay anh đã khá giả vì cần cù làm ăn, anh đã không lập gia đình suốt hai mươi năm để sống với mẹ già, chăm sóc phụng dưỡng người yêu quí duy nhất anh còn lại trên đời. "Thế còn Bích Liên? Bích Liên là ai? Anh kể nhanh đi ! Chúng tôi muốn biết câu chuyện giữa anh và Bích Liên!" các bạn anh nghe đến đấy nhao nhao lên như mổ bò. Anh cứ từ tốn đứng dậy, với tay cầm chai Napoléon, đi một vòng rót rượu cho các bạn anh. Trở về ngồi vào cái chỗ của anh trong bóng tối của căn phòng tiếp khách rộng lớn, anh đưa ly rượu lên miệng hớp một ngụm rồi nói "Các bạn hay nhỉ? Sao cứ nóng ruột như thế? Chuyện đâu còn đó, cứ từ từ. Kể chuyện phải có đầu có đuôi, như Maupassant đã nói! Câu chuyện của tôi nếu ông ta nghe được chắc chắn ông cũng sẽ kể lại trong tập Histoires Fantastiques của ông. Rất tiếc Maupassant đã chết hai thế kỷ trước rồi !" Nói xong câu đó, Hoàng lại làm thêm một ngụm cognac. Đặt ly xuống bàn xong anh kể nốt đoạn chót của câu chuyện đời anh như sau. Năm 1994, cụ bà mẹ anh qua đời. Trước khi chết, cụ đã dặn anh thiêu xác cụ rồi đem hũ tro về quê nhà chôn bên mộ của cụ ông. Cụ còn dặn đi dặn lại là anh phải về quê xây lại mộ cụ ông cho tử tế vì kể từ ngày bỏ nước ra đi, anh chưa có dịp trở về nên chưa nghĩ đến chuyện mồ mả của người cha bất hạnh. Một điều thứ hai mà cụ bà nói đến là chuyện lấy vợ của anh. Đã bao nhiêu lần cụ cứ nhắc đến chuyện vợ con với anh, nhưng lần nào anh cũng tìm cách nói lảng sang chuyện khác. Suốt hai mươi lăm năm, kể từ sau ngày Loan chết, anh không hề nghĩ bao giờ đến chuyện có người yêu để lấy làm vợ. Năm 1995, đúng hai mươi năm sau kể từ ngày anh rời quê hương, lúc đó anh đã 50 tuổi, anh mới quyết định trở về để thực hiện lệnh mà mẹ anh đã ra mấy năm trước đó. Nói cho đúng ra nếu không vì có nguyện vọng của mẹ anh thì anh cũng chẳng có ý nghĩ về thăm quê nhà. Khi anh trở lại Bảo Lộc thì cảnh tượng vẫn gần như xưa, có thay đổi chăng thì cũng không bao nhiêu. Có điều vườn trà nhà anh nay đã biến thành một vườn trồng cà phê, căn nhà gia đình anh ở xưa kia nay là một nhà máy rang và biến chế cà phê. Hỏi thăm về những người xưa kia đã làm việc cho cha anh thì được biết một số đã qua đời, số kia đã đi sinh sống nơi khác, những người nay làm việc nơi đây toàn là những kẻ từ miền Bắc vào lập nghiệp, bây giờ họ coi nơi đó là quê hương. Vì chẳng còn ai quen biết để chỉ cho anh nơi cha anh được chôn cất nên anh vất vả đi dọ hỏi từng người. Hoàn cảnh đã buộc anh đưa mẹ cấp kíp trốn về Saigon nên anh đã không được làm đám tang cho cha anh, nay lòng anh đau sót khi nghĩ đến thân xác người cha thân yêu đã bị chôn vùi nơi nào trong sự cô quạnh, không có bóng người thân tiễn đưa.
Anh chưa biết phải làm sao để tìm cho ra ngôi mộ thì may thay sang ngày thứ ba anh được quí nhân phù trợ, có người đàn bà nghe tin anh về, đến giúp anh tìm kiếm. Khi đó đã gần chiều, anh còn quanh quẩn nơi ngọn đồi bát ngát thì có một bóng người hớt hãi chạy tới. Khi đến gần, bà vừa thở hổn hển vừa nói :
Mừng quýnh như bắt được vàng, anh vội hỏi lại :
Lúc đó anh cũng chẳng nghĩ gì đến những điều lạ lùng mà người đàn bà kể cho anh nghe. Anh đã quá xúc động khi biết có người sẽ giúp anh kiếm ngôi mộ nên chẳng còn để tâm đến gì khác. Anh muốn người đàn bà thôi kể lể để đưa anh đến gặp ngay cô Bích nào đó, con bà. Cho nên khi bà vừa chấm dứt lời nói lòng vòng thì anh vội hối ;
Về đến nhà người đàn bà thì trời đã xâm xẩm tối. Xương đêm đã bắt đầu xuống. Quán nước đã đóng cửa im lìm. Người đàn bà đẩy cửa, vừa vào vừa lớn tiếng gọi con :
Một người con gái bóng dáng gầy gò nhưng cao ráo, trông cũng không xinh đẹp nhưng cũng không xấu xí, từ nhà trong bước ra nói:
Quay sang anh, người đàn bà tươi cười nói :
Bích nhìn anh với ánh mắt trìu mến. Nàng dán mắt vào anh, nhìn anh từ đầu đến chân như thể nhìn một bóng dáng thương yêu nàng đã phải xa cách từ lâu nay mới được gặp lại. Vẻ mặt nàng tỏ rõ sự hân hoan sung sướng. Nàng chạy lại, nắm tay dắt anh vào nhà trong, miệng nói :
Hoàng thấy khó tính quá, anh không muốn làm phật lòng Bích vì nàng sẽ là người giúp anh tìm ngôi mộ. Mà gọi anh thì anh thấy thế nào ấy ! Người con gái tuổi hai mươi ấy chỉ đáng làm con anh, xưng hô như vậy nghe nó hơi chướng tai. Chẳng biết nói sao anh đành im không trả lời. Ăn xong bữa cơm tối thanh đạm, người mẹ rút lui vào phòng trong để Bích nói chuyện với anh cho tự nhiên. Lúc đấy anh mới thanh thản hỏi Bích rằng sao chưa gặp anh bao giờ mà nàng lại biết chuyện của anh về kiếm mộ cha, tại sao mẹ nàng lại nói nàng thường tới thăm và săn sóc ngôi mộ. Bích nói cách đấy tám năm khi nàng 12 tuổi, nàng gặp một bác đàn ông đã khá lớn tuổi, bác ấy kể chuyện xưa kia bác làm công cho nhà anh, bác kể lại những biến cố đã xẩy ra nơi đấy, bác nói cả về anh và mẹ anh... Chính người đàn ông này đã đưa đứa bé gái đi thăm hai ngôi mộ mỗi tháng và kể lại lý lịch của hai ngôi mộ.
Nghe Bích nói, Hoàng rút ví tính lấy tiền biếu hai mẹ con Bích nhưng vừa thấy thế, cô gái hoảng hốt nắm tay anh nói vội:
Bối rối một phút xong anh bình tĩnh hỏi nàng:
Nàng buồn buồn nhìn anh một lúc lâu rồi nói :
Sau này Bích Liên mới nói ra ước nguyện của nàng là được theo anh sang Mỹ. Mà anh lại chẳng có cách gì để đón nàng sang Mỹ cả nên anh đã thành thật nói cho nàng hay :
Nghe vậy Bích Liên nói tỉnh bơ :
Nói đến đây giọng Hoàng hơi run run, anh em biết anh xúc động vì Bích Lìên đã chết. Mới có một năm đây, nàng còn sống bên anh, mang lại hạnh phúc tràn trề cho người đàn ông "lớn tuổi về nước để lấy vợ trẻ" như người ta thường mỉa mai chê trách. Lúc mới đón nàng sang, nhiều kẻ thối mồm còn xì xầm rằng rồi ra Bích Liên sẽ bỏ anh chồng già để đi kiếm một chàng trai trẻ hợp với tuổi nàng. Nàng đã cho mọi người thấy rõ rằng nàng không thuộc loại con gái hám tiền hám của hay ham sang Mỹ để được sướng thân. Nhưng tất cả vấn đề trong câu chuyện anh kể không phải là việc vợ trẻ lấy chồng già mà cũng không phải là chuyện tại sao anh lấy Bích Liên. Các bạn anh vẫn muốn tìm hiểu, ngay cả khi nàng còn sống, xem tại sao Bích liên lại đòi lấy anh. Chắc chắn không phải nàng muốn đi Mỹ để được sung sướng, được ăn chơi, được hưởng đời. Bởi vì sau khi đến Mỹ, Bích Liên vẫn sống một cuộc sống bình dị như thể nàng còn sống ở Việt Nam với mẹ. Nàng ít ra phố, chỉ thường ở nhà chăm sóc cho chồng, lấy hạnh phúc gia đình làm nguồn vui. Như thế Hoàng đã cưới Bích Liên làm vợ và anh đã làm thủ tục để nàng được sang sống bên Mỹ với anh. Bích Liên là một người con gái thông minh, có óc cởi mở nên sống ở một xã hội khác lạ như nước Mỹ nàng vẫn thích nghi được dễ dàng. Hơn nữa vì yêu anh thật tình nên nàng cư xử rất khôn khéo, không làm một điều gì để anh phải suy nghĩ, càng không muốn gây tiếng xấu cho anh và cho chính mình. Tất cả những bà con bạn bè quen thuộc gặp nàng đều phải công nhận rằng Bích Liên là người vợ lý tưởng mà trời đất ban cho anh. Họ nói: "Số anh có phúc lớn mới có được một người vợ thương yêu chiều chuộng chồng như vậy." Nghe những lời ca tụng của bạn bè, anh thấy sung sướng vô ngần. Anh cám ơn trời đất đã cho anh cái diễm phúc được gặp nàng. Nhưng đó chỉ là ý tưởng lúc ban đầu. Sau này càng sống với vợ, anh càng thấy có nhiều điều bí ẩn, nhiểu sự kiện lạ lùng mà anh chỉ chứng kiến mà không dám hỏi, mặc dù trong đầu anh cứ có nghi vấn, anh cứ thắc mắc tự hỏi mà không tìm ra câu trả lời. Chẳng hạn như khi hai đứa gần nhau thì nàng cứ muốn được liếm tay hay mặt anh một hai cái. Anh thấy điều này rất lạ vì anh chẳng nghe nói đàn bà thích liếm mặt đàn ông bao giờ. Một cái lạ khác là Bích Liên rất thính tai, thính mũi. Bạn đến nhà chơi, còn chạy xe ở xa nơi đầu đường mà nàng đã biết. Nêú anh không để ý thì nàng cứ đằng hắng hai tiếng, như thể để báo cho anh hay. Nếu là đàn bà đến chơi, còn ở tuốt xa ngoài đường, Bích Liên đã bảo anh :
Hoàng không hiểu sao vợ anh lại có thể đánh hơi xa cả hai ba trăm thước như thế. Anh thấy lạ và thắc mắc trong lòng nhưng chẳng dám hỏi.
Lưỡng lự thêm một lúc lâu, anh phải dỗ mãi nàng mới nói :
Mặc dù không hiểu sao nàng lại có ý muốn này, anh vẫn trả lời :
Thế là vẻ mặt nàng hớn hở sung sướng vô cùng, làm anh thấy vui lây. Sống chung với nhau được sáu năm thì bỗng nhiên Bích Liên trở bệnh. Điều lạ lùng là nàng cứ ngày càng yếu thêm, đi khám bệnh không bác sĩ nào tìm ra được căn nguyên. Cho đến một hôm cách đây gần một năm, Bích Liên biết trước nàng sắp chết, nàng gọi anh đến bên giường cố mỉm cười nói với anh:
Nghỉ môt phút cho đỡ mệt xong Bích Liên trìu mến nhìn anh nói tiếp:
Nói đến đây Bích Liên gần như lả đi. Hoàng cúi người xuống ôm vợ nhẹ nhàng nói :
Hoàng cúi sát mặt xuống để Bích Liên ôm cổ anh lần chót. Nàng kề môi vào má anh liếm hai ba cái rồi như đã thoả mãn nàng nói tiếp :
Nói đến đấy thì nàng từ giã cuộc đời. "Như thế những lời đồn rằng nàng về là đúng thật sao anh Hoàng?" có tiếng một người hỏi anh nhưng không thấy anh trả lời. Mọi người thấy Hoàng đứng dạy bước ra tấm cửa kính lớn nhìn xuống vườn sau nhà. Hôm nói chuyện đúng là ngày rầm, cả một bầu trời sáng trăng rực rỡ hiện ra trước mắt. Sau cái vẫy tay của anh, cả đám bạn anh lẳng lặng đứng dậy khẽ bước tới phía cửa kính, đứng bên anh. Anh nói "Còn đúng ba phút nữa là 12 giờ đêm. Xin các bạn bình tĩnh nhìn xuống dưới kia và tuyệt nhiên giữ im lặng giùm." Hướng Dương txđ
|